BÀI DỰ THI GIẢI THƯỞNG “TRÁI TIM NGƯỜI THẦY ” (NĂM 2008)
(Bài viết được lấy cảm hứng từ câu chuyện có thật của Cô D.T – một giáo viên dạy Toán đầy tâm huyết, cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà.)
Điều kì diệu của trái tim…
Mấy hôm nay trời Sài Gòn mưa tầm tã. Những cơn mưa như dập tắt đi cái nắng gay gắt đầy kiêu hãnh của vùng đất Phương
Chuông hết tiết reo lên, vậy là kết thúc tiết dạy cuối cùng của buổi chiều. Tôi bước xuống cầu thang lớp học. Thầy hiệu trưởng đã đón tôi với nụ cười hiền hậu “Cô D.T. này, cô vào phòng Ban giám hiệu gặp tôi một lát nhé”. Tôi cười rất tươi để thay sự đồng ý và theo chân thầy vào phòng làm việc. Thầy mời tôi ngồi và động viên tôi tham gia viết bài cho hội thi “Trái tim người thầy”. Lúc đầu tôi lưỡng lự không biết có nên nhận lời không, sẽ viết gì đây khi tôi là một giáo viên dạy Toán, biết bao khó khăn trong việc diễn đạt ngôn từ. Chưa kể, đã bao giờ tôi ngồi và nghĩ lại chặng đường đã qua của cuộc đời dạy học đâu!! Tôi xin phép thầy hiệu trưởng về suy nghĩ và sẽ trả lời vào ngày hôm sau. Bước chân ra khỏi phòng Ban giám hiệu, tôi bần thần nghĩ lại, nhớ lại,….hàng trăm kỷ niệm của một thời gian khó hiện về. Tôi thấy lòng rạo rực, bâng khuâng, một niềm bâng khuâng khó tả của người giáo viên đi gần hết một chăng đời, bỗng nhớ lại những ngày đầu ngỡ ngàng trên bục giảng.
Thế là tôi nhận lời tham dự cuộc thi “Trái tim người thầy”.
Nhưng có lẽ, thành thật mà nói, tôi không hề nghĩ đến giải thưởng hay bất cứ sự tôn vinh nào đằng sau cuộc thi ấy. Mà điều làm tôi khao khát là được cầm bút để viết lại chặng đường đã qua của đời mình, đó là những kí ức, những kỷ niệm. Có lẽ đến một lúc nào đó của cuộc đời, ta bỗng nhận ra kỷ niệm là một cái gì đó thiêng liêng và có sức mạnh ghê gớm với con người. Với tôi thì đúng là như thế. Cũng có người đã nhận ra điều đó trước tôi khi nói rằng một dân tộc không thể tách rời lịch sử, một đời người không thể tách rời kỷ niệm. Kỷ niệm quan trọng lắm. Tôi đã và đang nhìn lại và bước tiếp những trang kỷ niệm của đời mình. Tôi nhớ một người bạn đồng nghiệp đã hỏi tôi “Cậu sống một đời với nghề dạy học, cậu có bao giờ hối hận khi lựa chọn con đường này không?” Tôi cười mà nghĩ rằng: hối hận thì không, nhưng một đôi khi nao núng lòng mình thì cũng có. Nhưng rồi lòng yêu nghề đã giúp tôi vượt qua những phút giây nao núng ấy. Đến nay tôi đã bền bỉ, thủy chung sống cùng nghề dạy học, một nghề được cố thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi là “Nghề cao quý nhất”, ba mươi hai năm nay. Ba mươi hai năm với biết bao mồ hôi, nước mắt và cũng biết bao niềm hạnh phúc. Trong ba mươi hai năm ấy tôi đã là người giữ lửa, thắp lửa và truyền lửa cho bao thế hệ học trò.
Nhớ lại ngày ấy, những ngày của năm 1974, khi đất nước đang sục sôi chiến đấu giành lại miền Nam, thống nhất đất nước, tôi thi đậu và khăn gói vào học ở trường ĐH Sư Phạm TpHCM. Bao khó khăn chào đón cuộc đời sinh viên khi đất nước chưa thống nhất, miền Nam còn chìm trong bom đạn. Gia đình tôi sống chung với những khó của đất nước trong những năm tháng chiến tranh đằng đẵng. Cha mẹ tôi là công chức, lại nuôi 10 người con nên nghèo lắm. Tôi chung cái khổ của gia đình và đất nước nên quyết tâm thi đậu vào trường ĐH Sư Phạm TpHCM. Lúc ấy trong tôi không có cái khát khao làm cô giáo, chỉ đơn giản là vào trường này sẽ có học bổng hàng tháng, ra trường lại được phân công nhiệm sở ngay.
Tôi đã bắt đầu bước vào nghề dạy học như thế đấy.
Ra trường năm 1976, một năm sau này miền
Có lẽ ai đã từng sống trong những năm tháng ấy đều có thể hình dung hết những khó khăn mà chúng tôi phải trải qua. Nhưng mặc cho thiếu thốn đủ thứ về vật chất, mặc bao khó khăn về phương tiện đi lại, tuổi trẻ và lòng nhiệt tình yêu nghề đã giúp tôi vượt qua tất cả. Những buổi lao động trồng cây gây rừng, mồ hôi đầm đìa vai áo, bàn tay chai đi vì cuốc xẻng, vậy mà miệng vẫn hát vang bài ca lao động, cô trò vẫn cười tươi khi chia nhau một ly nước mát. Những bữa cơm độn khoai độn sắn không làm nhụt chân tôi khi lội bộ đến trường. Ba năm dạy học xa nhà đã luyện cho tôi sức chịu đựng và lòng yêu nghề.
Rời mái trường Uyên Hưng, tôi đến trường cấp 3 Long Bình Tân, Biên Hòa Đồng Nai (cách ngã 3 Vũng Tàu hơn 1 cây số), lòng nhiệt huyết với nghề không giảm nhưng tôi không còn là một cô giáo trẻ mới ra trường không vướng bận gia đình nữa, thời gian này tôi đã lập gia đình và đang mang thai. Chồng tôi cũng là giáo viên dạy ở Long Khánh, vợ chồng cách biệt như thời chiến. Mà đúng thật, tôi đang chiến đấu lại với hoàn cảnh vô vàn khó khăn của mình. Bụng mang dạ chửa, tôi lội bộ băng đường đi dạy, lòng vẫn phơi phới với bữa cơm trưa độn sắn ở trường. Chuyến xe chiều đi nhờ được đoạn đường về cũng không vơi được nỗi mệt mỏi sau một ngày dạy học. Thế mà, chẳng hiểu sức đâu mà tôi làm việc hăng say vậy. Mang thai 6 tháng, tôi vẫn tham dự cuộc thi Giáo viên giỏi do Phòng giáo dục tổ chức. Ai thấy tôi trên bục giảng cũng ngạc nhiên vì sao tôi làm việc quên mình đến vậy, tôi dũng cảm đến vậy. Những lớp học phụ đạo cho học sinh yếu cũng lần lượt ra đời. Tôi dạy miễn phí cho học sinh chỉ để mong nâng cao chất lượng dạy học. Tôi không nhận tiền bạc vì ai cũng nghèo cả, nhưng họ đã không quên tặng tôi những ánh mắt biết ơn. Với tôi đó là món quà ấm áp nhất.
Phải thừa nhận tôi yêu nghề lắm. Tôi nghĩ việc dạy học quan trọng nhất là phải yêu nghề. Có yêu nghề mới yêu trò, mới có cái nhìn bao dung trước mọi lỗi lầm mà các em gây ra. Tôi đã không kì vọng mình xuất sắc trong vai trò là một kỹ sư tâm hồn, nhưng có lẽ tôi đã làm được điều đó. Tôi không chỉ rèn trí mà còn tìm cách khai tâm, khai đức cho trò. Không tâm huyết làm sao mà làm được! Làm sao mà tôi có thể lội nắng mưa trên những con đường làng, trong đêm tối đến nhà động viên, thăm hỏi học sinh lớp chủ nhiệm. Tôi đã từng khóc khi thương quá hoàn cảnh một học sinh, cha mẹ hi sinh trong chiến trận, vậy mà vẫn vừa đi học vừa đi làm thuê nuôi bà ngoại. Có lẽ chính tình thương ấy đã cho tôi sức mạnh tiếp tục bền bỉ làm việc.
Sự nghiệp dạy học song song cùng với những năm tháng khó khăn của đời tôi. Tôi bắt đầu làm mẹ. Chồng vẫn đi xa. Khó khăn chồng chất khó khăn. Tôi phải nhờ hàng xóm đưa con đi học, chưa một lần tôi dắt con đến trường chỉ vì sợ trễ giờ lên lớp. Mẹ tôi mất tôi đâu còn biết gửi con ở đâu, nhiều lúc thương con muốn ứa nước mắt. Đã có lúc tôi muốn rời khỏi bục giảng, từ bỏ cái “nghề cao quý này”. Tiền bạc không có, con nhỏ, chồng ở xa, nhưng cứ như là có duyên có nợ, tôi không xa được. Tôi nhanh chóng vượt qua những phút yếu lòng và lại tiếp tục bước tiếp con đường dạy học mà mình đã chọn.
Tôi lại chuyển công tác. Ngôi trường thứ 3 tôi đến là Trường cấp 3 Khu công nghiệp Biên Hòa Đồng Nai (ngay tại ngã 3 Vũng Tàu), lúc này tôi không còn phải đi bộ nữa, vất vả cũng vơi dần. Nhiều lúc nghĩ lại, tôi thấy mình có duyên với công tác chủ nhiệm. Hầu hết các lớp tôi dạy và chủ nhiệm học sinh đều rất thương cô và vâng lời cô. Đã có biết bao thế hệ học sinh ra trường và về tìm lại tôi để tỏ lòng tri ân. Tôi vui vì mình đã làm được một điều gì đó thật ý nghĩa.
Thế rồi sau gần 10 năm xa nhà, tôi được chuyển về Sài Gòn. Mái trường Tân Bình là nơi tôi được phân công về nhận công tác.
Đứng giữa sân trường rộng lớn, hít thở bầu không khí Sài Gòn tấp nập khói xe, tôi đã không hiểu sức mạnh gì giúp tôi vượt qua 10 năm gian khó ấy.
Lại muôn vàn khó khăn đợi tôi khi về thành phố, chồng tôi vẫn công tác xa nhà, nhưng chỉ nghĩ đến những gương mặt thơ ngây và hàng trăm số phận khác nhau của học trò, trái tim tôi lại rung lên niềm khao khát được đứng trên bục giảng. Nhiều bất ngờ đến với tôi khi tôi nhận lớp. Đối tượng học sinh thành phố khác hẳn với thôn quê. Học sinh không ngoan, lười học. Tôi còn nhớ như in, trong lớp 12.A có em Tâm là học sinh lưu ban, vóc dáng cao to hơn so với các bạn trong lớp. Em thường xuyên bắt nạt các bạn và trốn học. Tôi đã tìm cách nhắc nhở động viên vẫn không được. Cuối cùng, mặc những lời hăm dọa của em Tâm (theo như những học sinh cùng lớp mách lại với tôi), tôi vẫn quyết định ghé thăm nhà của em Tâm. Có lẽ sau chuyến thăm nhà ấy, tôi có dịp hiểu thêm hoàn cảnh gia đình em. Tâm thiếu thốn tình thương của bố, mẹ phải làm việc xa nhà, em tự học, không ai chăm nom nhắc nhở, từ đấy tôi có cái nhìn bao dung hơn về em, chia sẻ hơn với em. Hiểu được tình thương của tôi, em Tâm dần tiến bộ. Cuối năm học, vào buổi chia tay, em đã tìm tôi và nói lời cảm ơn trong nước mắt: “Cô ơi, cô là mẹ của con, con rất biết ơn cô”.
Hành trang ký ức của tôi nhiều thêm sau những năm tháng dạy học. Mặc những tối dạy kèm đến khuya, mặc những cơn bệnh vì lao lực, vì con nhỏ, vì chồng ở xa không người chia sẻ, tôi vẫn thấy vô cùng hạnh phúc với nghề dạy học của mình.
Tháng 9/1989, ngôi trường Nguyễn Hiền nơi tôi giảng dạy trở thành trường PTBC đầu tiên của cả nước. Đối tượng học sinh vào trường rất yếu, lười học và quậy phá. Vì vậy, tôi lại đối diện với những thử thách mới. Có nhiều đêm, nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn tôi cảm giác như đang húc đầu vào một bức tường đá vậy. Lớp 12A mở đầu trang nhật ký những năm tháng dạy học sinh bán công của tôi. Năm ấy em Ánh Hằng là một học sinh rất cá biệt, mẹ mất sớm, ở với ông bà, em đã tìm đủ mọi cách để quậy phá lớp học và gây phiền nhiễu cho giáo viên. Tôi lại phải vừa là cô, vừa là mẹ để cảm hóa em ấy. Cuối năm, Hằng đã trở thành học sinh khá và là một lớp trưởng gương mẫu. Nhìn Hằng, tôi thương lắm. Bao nhiêu mệt mỏi tan biến khi thấy gương mặt nhem nhuốc của học sinh nay đã trở nên rạng ngời sáng sủa, hồn nhiên. Có phần thưởng nào quý hơn thế đâu?
Nhìn lại ba mươi hai năm trong nghề giáo, với 10 năm dạy học xa nhà, một mình nuôi con trong 17 năm đợi chồng được chuyển công tác về thành phố, có biết bao giọt mồ hôi và nước mắt. Cái tôi nhận được không phải là những tấm huy chương, những bằng khen, những con số chỉ tiêu mà là sự kính trọng yêu thương của bao thế hệ học trò, sự quý mến của đồng nghiệp, sự tin yêu của các bậc phụ huynh. Đó chẳng phải là phần thưởng cao quý nhất của nghề dạy học đấy sao?
Ba mươi hai năm trôi qua, trái tim người thầy trong tôi vẫn rừng rực khát khao dạy học. Tình yêu nghề đã đẩy lùi bệnh tật, khó khăn chỉ còn lại một trái tim với nhịp đập của tình thương và trách nhiệm. Đã qua rồi những năm tháng đói khổ, ăn bữa trước chạy bữa sau, đất nước chúng ta đang trên đà phát triển, ngành giáo dục cũng có những chuyển mình thật đáng khích lệ trong xu hướng toàn cầu hóa. Tôi lại càng yêu hơn sự nghiệp giáo dục của đời mình.
Nếu được lựa chọn lại, tôi lại muốn trở thành cô giáo. Tôi biết, tôi sinh ra để làm nghề dạy học. Bởi đây là nơi mà tình yêu thương trách nhiệm đã đúc kết cho con người một trái tim biết bao dung, chia sẻ, biết sống vì mọi người, biết đau nỗi đau của con người và biết chung tay thắp sáng nụ cười của thế hệ trẻ. Chính trái tim người thầy đã giúp tôi vượt qua chặng đường gian khó ấy. Và lại thắp tiếp cho tôi ngọn lửa trong những năm tháng tiếp theo. Cũng chỉ ít năm nữa thôi, đến tuổi về hưu rồi, nhưng tôi vẫn đang giữ nguyên một niềm hi vọng vẫn tiếp tục đi dạy ở những trường dân lập, để tiếp tục truyền dạy kiến thức cho học trò. Tôi đâu muốn dừng chân khi niềm đam mê còn nguyên vẹn…
Cảm ơn cuộc thi “Trái tim người thầy” đã cho tôi cơ hội được nhìn lại để biết quý trọng và bước tiếp tương lai với niềm tự tin hơn. Tôi mong tất cả chúng ta hãy tìm cho mình một cơ hội để ngồi và nhìn lại một chặng đường đã qua, để thấy được ngọn lửa lòng mình vẫn bùng cháy mãnh liệt, đó là ngọn lửa của niềm tin, của hi vọng, của tình yêu nghề giáo, một nghề khai trí, khai tâm, khai đức cho con người. Chúng ta, những người làm công tác giáo dục, hãy tiếp tục thắp sáng lên những điều kì diệu, đó chính là điều kì diệu của trái tim.
TpHCM, 20/11/ 2008