Biểu tượng thiên nhiên trong truyện Kiều (Phần I)

BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG TRUYỆN KIỀU (PHẦN I)

PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIM NGÂN

                Biểu tượng là một khái niệm được sử dung rộng rãi trong nhiều ngành khoa học như Nhân học văn hóa, Ký hiệu học, Thẩm mỹ học, Nghiên cứu văn học. Trong mỗi lĩnh vực khái niệm này có những nghĩa cụ thể khác nhau, tuy nhiên nghĩa chung nhất vẫn là để chỉ một cái gì đó đại diện cho một cái khác. Riêng trong lí luận văn học, biểu tượng thường được hiểu như một loại hình tượng ước lệ, một dạng ký hiệu đặc biệt. Biểu tượng “là cái dùng để chỉ một cái khác nhưng cũng là cái đòi hỏi phải chú ý tới chính bản thân nó như một sự tượng hình”(8  ). Nói một cách khác, biểu tượng có hai mặt:  một mặt, đó là hình tượng mang nghĩa vốn có, có cái được biểu đạt của mình, mặt khác, nó ám chỉ một cái khác không liên quan gì đến nghĩa của cái được biểu đạt. “ Biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một ký hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được”( 6   ). Do tính chất ký hiệu của nó, biểu tượng thường mang tinh quy ước, vì vậy để hiểu được một biểu tượng cần phải hiểu được mã quy ước chi phối nghĩa của nó.

                Biểu tượng thiên nhiên là những hình ảnh về cây cỏ, hoa lá, cảnh, vật và hiện tượng thiên nhiên được dùng để ám chỉ một cái khác chứ không phải để diễn tả bản thân hiện tương thiên nhiên ấy. Ở đây cái biểu đạt ( signifier ) tức hình ảnh thiên nhiên, không nhằm hướng tới cái được biểu đạt ( signified ) tức hiện tượng thiên nhiên mà nhằm diễn tả một ý khác, thường là những ý mơ hồ, đa nghĩa, khó tóm tắt trong một vài chữ. Các hình ảnh này được sử dụng lắp đi lắp lại nhiều lần trong một cộng đồng văn hóa, nghĩa ám chỉ của chúng đã trở thành quy ước, quen thuộc. Biểu tượng thiên nhiên được dùng khá phổ biến trong sáng tác văn học, nhất là thơ ca và Truyện Kiều là một trường hợp khá tiêu biểu.

                Biểu tượng thiên nhiên trong Truyện Kiều rất phong phú và đa dạng. Có thể chia các biểu tượng này thành 4 nhóm:

1.Biểu tượng về cây cỏ, hoa quả, ví dụ:    

    Tái sinh chưa dứt hương thề

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai

Hay:       

         Trướng tô giáp mặt hoa đào

Vẻ nào chẳng mặn nét nào chẳng ưa

2.Biểu tượng về động vật, ví dụ :             

       Sợ khi ong bướm đãi đằng

Đến điều sống nhục sao bằng thác trong

3.Biểu tượng về cảnh, vật thiên nhiên, ví dụ :       

Quản chi lên thác xuống ghềnh

Cũng toan sống thác với tình cho xong

 

Hay:

Đã gần chi có điều xa

Đá vàng đã quyết phong ba cũng liều

4.Biểu tượng về các hiện tượng tự nhiên, ví dụ :

Bấy chầy gió táp mưa sa

Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn

       Hay:

Mây mưa đánh đổ đá vàng

Quá chiều nên đã chán chường yến anh

       Trong Truyện Kiều các biểu tượng thiên nhiên cũng có nhiều dạng khác nhau, tùy thuộc vào hình thức kết cấu của biểu tượng. Sau đây là một số dạng chính :

       Biểu tượng đơn là những biểu tượng được cấu tạo bằng một hay hai từ, chỉ một cảnh, vật hay hiện tượng tự nhiên duy nhất, ví dụ biểu tượngbèođào tiên trong các câu :

Tiện đây xin một hai điều

Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng

       Hay:         

Đào tiên đã bén tay phàm

Thì vin cành quít cho cam sự đời

       Những biểu tượng đơn thường gặp trong Truyện Kiều là : hoa, bèo, bèo bọt, cúc, mai, trúc,, liễu, đào tiên, đào non, cát đằng, con ong, con kiến

       Biểu tượng kép là những biểu tượng được cấu tạo từ hai từ, chỉ hai cảnh, vật hay hiện tượng thiên nhiên khác nhau, ví dụ:      

Tái sinh chưa dứt hương thề

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai

       Trúc và Mai là hai loại cây khác nhau. Những biểu tượng kép thường gặp trong Truyện Kiều là : ong bướm, phượng loan, yến anh, rồng phượng, đá vàng, nước non, đào mận, trăng gió, trăng hoa, nguệt hoa, mây mưa

       Biểu tượng song đôi là những biểu tượng được tổ hợp từ những biểu tượng kép thành những biểu tượng có ý nghĩa gần gũi và có cấu trúc cân đối. Ví dụ:

Rồi đây bèo hợp mây tan

Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu

       Hay :         

Nghĩ điều trời thẳm vực sâu

Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn

       Những biểu tượng song đội thường gặp trong Truyện Kiều là : bèo hợp mây tan, bèo nổi mây chìm, hoa trôi bèo dạt, miệng hùm nọc rắn, chim lồng cá chậu, bóng chim tăm cá, sớm đào tối mận, lên thác xuống ghềnh, ong qua bướm lại, bướm lả ong lơi, gió trúc mưa mai

       Biểu tượng biến thể là những biểu tượng cũng phái sinh từ những biểu tượng kép nhưng nghĩa đã khác xa và không tạo thành những tổ hợp vuông vức, cân đối như biểu tượng song đôi. Ví dụ:

Từ khi đá biết tuổi vàng

Tình càng thấm thía dạ càng ngẩn ngơ

       Hay :       

        Trai anh hùng gái thuyền quyên

Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng

       Trong những câu thơ trên đá vàng, rồng phượng vốn là những biểu tượng kép  có ý nghĩa xác định nhưng đã được thay đổi, giãn ra và chỉ mang ý nghĩa tương tự hoặc khác hẳn. Trong Truyện Kiều bắt gặp không ít những trường hợp như vậy ( Dẫu mòn bia đá dám sai tấc vàng // Contằm đến thác cũng còn vương // Mấy trăng cũng khuyết mấy hoacũng tàn…)

       Truyện Kiều là một tuyệt phẩm về thơ ca. Giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều không chỉ thể hiện ở sự phong phú và đa dạng của các biểu tượng mà còn ở cách nhà thơ sử dụng các biểu tượng ấy để diễn tả những tình ý và tình huống cụ thể. Trong mỗi trường hợp biểu tượng lại biến đổi, mang sắc thái mới, đem lại một nghĩa mới.

       Nguyễn Du không ngại dùng những biểu tượng quen thuộc trong văn chương bác học như : trúc mai, loan phượng, yến anh ( oanh ) , cúc, liễu, mận đào. Tuy nhiên số lượng biểu tượng loại này không nhiều và khi dùng Nguyễn Du cũng không câu nệ vào việc rập khuôn các công thức cũ. Lấy ví dụ biểu tượng trúc mai. Chúng ta đều biết biểu tượng trúc mai rất thường được dùng trong văn chương cổ điển. Trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi nhiều lần sử dụng biểu tượng Trúc Mai :

Trúc mai bạn cũ họp nhau quen

Cửa mận tường đào chân ngại chen   ( Thuật hứng, I )

Án sách cây đèn hai bạn cũ

Song mai hiên trúc một lòng thanh    ( Ngôn chí, VI )

Bạn cũ thiếu đâu đèn liễu sách

Tính quen chẳng kém trúc cùng mai    (  Ngôn chí, XII )

Trúc mai chẳng phụ lòng quân tử

Viên hạc đà quen bạn dật dân     ( Thuật hứng, XV )

Rủ vượn hạc xin phương giải tục

Quyến mai trúc kết bạn tri âm       (Tự thuật, VIII )

       Chúng ta đều biết trong văn học cổ,  mai trúc tượng trưng cho sự trong sạch và cứng cáp

Thanh quí bằng mai ít kẻ tày

Hình dung mạc được lạ lùng thay

 ( Họa mai – Hồng Đức quốc âm thi tập )

       Bản thân  Nguyễn Trãi cũng có những bài thơ nói lên phẩm chất thanh cao, tiết cứng của Mai, Trúc:

Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi

Ưa mày vì tiết sạch hơn người     ( Mai )

Huống lại nhưng nhưng chẳng bén tục

Trượng phu tiết cứng khác người thay   ( Trúc )

       Nhưng trong các câu thơ trong Quôc âm thi tập dẫn ra ở trên chúng ta thấy Trúc  Mai được dùng như một biểu tượng kép và ý nghĩa chung của biểu tượng này là để chỉ sự gần gũi, thân thuộc, có đôi có cặp. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã dùng biểu tượng này với nghĩa ấy:

Một nhà sum họp trúc mai

Cáng sâu nghĩa bể càng dài tình sông

       Tuy nhiên trong 6 lần xuất hiện chỉ 1 lần biểu tượng Trúc Mai ám chỉ sự bầu bạn, đoàn viên như trong câu thơ trên, còn 5 lân khác  biểu tượng này được Nguyên Du dùng với ý nghĩa đã thay đổi.  Trường hợp thứ nhất là khi Trúc Mai được dùng với sắc thái tiêu cực, để chi những quan hệ huê tình liên quan đến cuộc sống của Thúy Kiều trong những ngày ở lầu xanh:

Muôn nghìn người thấy cũng yêu

Xôn xao anh yến dập dìu trúc mai

                 

     Thờ ơ gió trúc mưa mai

Ngẩn ngơ trăm mối dùi mài một thân

                Trường hợp thứ hai là khi Trúc Mai trở thành tượng trưng cho sự gắn bó keo sơn vượt lên mức tri âm, bạn bè, trở thành quan hệ tình yêu nam nữ, thậm chí là tình cảm vợ chồng. Trong Truyện Kiều có 3 lần Trúc Mai được dùng theo nghĩa này . Hai lần là lời Thúy Kiều khóc than vì không đền đáp được mối tình với Kim Trọng :

Tái sinh chưa dứt hương thề

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai

                  

    Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đên nghì trúc mai

                 

         Chắc rằng mai trúc lại vầy

Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau

Cách sử dụng biểu tượng Trúc Mai theo nghĩa này rõ ràng rất gần với thơ ca trữ tình dân gian. Ca dao có nhiều câu dùng Trúc Mai với ý tương tự:

 

Hôm nay sum họp trúc  mai

Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm

Hay:   

  Ai đi đường nấy hỡi ai

Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

Như vậy chúng ta thấy chỉ trong trường hợp Trúc Mai, cách ứng xử của Nguyễn Du đã rất linh hoạt. Có khi nhà thơ dùng Trúc Mai như một biểu tượng kép thuận ( Trúc Mai ) hay kép ngược ( Mai  Trúc ), có khi ông biến đổi biểu tượng kép thuận thành biểu tượng song đôi ( gió Trúc mưa Mai ). Có khi biểu tượng ám chỉ sự đoàn viên, có  khi lại mang nghĩa tình duyên nam nữ, vợ chồng. Đáng kể

nhất là khi nhà thơ không ngại sử dụng biểu tượng này với sắc thái tiêu cực ( Thờ ơ gió trúc mưa mai// Xôn xao anh yến dập dìu trúc mai ). Đây là cách sử dụng biểu tượng Trúc Mai chưa từng gặp trong văn học trước đó cũng như trong ca dao.

Trúc Mai không phải là trường hợp duy nhất thể hiện sáng tạo của Nguyễn Du trong cách dùng các biểu tượng thiên nhiên trong Truyện Kiều. Thử lấy thêm một ví dụ khác.

Trong Truyện Kiều bèo, bèo bọt,bèo hợp mây tan là những biểu tượng rất thường gặp.  Có 14 lần các biểu tượng này xuất hiện trong tác phẩm với những hình thức khác nhau. Biểu tượng bèo băt gặp duy nhất một lần trong câu nói với ý khiêm tốn của Kim Trọng với Thúy Kiều trong buổi đầu gặp nhau:           

Tiện đây xin một hai điều

Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng

 

Nguyễn Trãi cũng đã từng dùng Bèo như một biểu tượng:

Tưởng thân hư ảo nổi bằng bèo

Chí cũ công danh vuỗn lỡ keo    ( Mạn thuật.  X )

Ca dao cũng có câu :

Kiếp đói nghèo phận bèo trôi nổi

Hầu hạ người em tội tình chi

Nhưng trong thơ Nguyễn Trãi và trong ca dao Bèo chỉ sự trôi nổi, dập dềnh, còn trong câu nói của Kim Trọng,  Bèo ám chỉ sự thấp bé, hèn kém. Chính với nghĩa này trong Truyện Kiều còn có thêm một biểu tượng nữa là bèo bọt hay bọt bèo. Đó là những trường hợp khi Thúy Kiều nói về mình với Sở Khanh:

Răng tôi bèo bọt chút thân

Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh

Và với Từ Hải :

Rộng thương cỏ nội hoa hèn

Chút thân bèo bọt  dám phiền mai sau

 

Cũng như khi Thúc Sinh giới thiệu thân phận Thúy Kiều với quan phủ:

Sinh rằng : “ Chút phận bọt bèo

Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên “

               

Dùng hình ảnh Bọt bèo để chỉ  thân phận thấp bé của người phụ nữ rơi vào hoàn cảnh không may cũng có thể xem là sáng tạo của Nguyễn Du, bởi vì điều này rất hiếm gặp không chỉ trong văn chương bác học mà cả trong ca dao.

Đáng chú ý là những trường hợp khi Nguyễn Du cũng sử dụng những biểu tượng quen thuộc nhưng luôn luôn biến đổi, nhào nặn, làm cho biểu tượng mang những hình thức khác nhau, với những sắc thái khác nhau.Bèo là một ví dụ. Như ở trên đã nói, trong thơ ca hình ảnh Bèo thường được tượng trưng cho sự lênh đênh, trôi nổi, bấp bênh, không yên ổn, ổn định. Từ nghĩa này đã hình thành motif bèo dạt mây trôi rất phổ biến trong thơ ca dân gian, trong câu ca quan họ. Kiểu biểu tượng song đôi này thường được Nguyễn Du biến cải thành những dạng khác nhau, nhiều lần bắt gặp trong Truyện Kiều.

(Còn tiếp)


N.T.K.N

Gởi
Bài được đọc nhiều nhất
Thứ 2
Thứ 3
Thứ 4
Thứ 5
Thứ 6
Thứ 7
Chủ nhật

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31