Câu chuyện từ Gò Sa
Xóm Phế Liệu
Lê Hồng Ân
Xã Điền An có năm thôn. Bốn thôn nằm dọc quốc lộ; và một thôn nhỏ, Điền Lâm đứng sát chân núi, tách biệt bên kia cầu. Trước đây ít ai lui tới; nay thì người, xe qua lại tấp nập. Khoảng ba chục ngôi nhà, chen nhau trên cái gò đá ong; toàn là nhà mới xây, lạ lẫm kiểu dáng , lòe loẹt sắc màu. Nhà Ba Tường chờm ra đường, , trông khá đồ sộ, nghênh ngang. Vây quanh là mấy ngôi nhà quay hướng Đông với hai cánh cổng hình đại bàng , và dăm ngôi nhà quay hướng Bắc, cửa sổ hình mắt cáo. Lũy tre xanh bao quanh Điền Lâm nay không còn nữa, những bức tường xi măng xám ngoắt đang mọc lên để khẳng định quyền tư hữu của những ông chủ mới .
Cách đây mươi năm, ĐiềnLâm là xóm nghèo nhất xã.
Học xong lớp mười hai, Ba Tường, không thi đại học. Tuy gia cảnh không đến nổi nào nhưng mẹ Tường, trước Tết năm ấy, tuyên bố :“ Còn ba thằng em, tao và cha mày không có đủ tiền cho học tiếp, con tìm việc mà làm …”. Hiểu ý mẹ, Ba Tường trả lời: “ Con sẽ tự kiếm sống nhưng ra Giêng cha mẹ cưới vợ và làm nhà cho con ở riêng”.”
Cưới cô vợ trẻ tên Liên, người Chợ Chùa, Ba Tường bắt đầu cuộc mưu sinh từ cái nhà tranh ở góc vườn của cha mình - ông Ba Thiệu.
Giáp Tết, thị trường Đài Loan, Trung Quốc hút cau. Ba Tường rủ Sáu Thanh và Ba Thọ nhanh tay thầu hết cau non trong xã.
Điền An từ lâu nổi tiếng về những vườn cau, vuông vắn, đẹp nhất xứ . Có một giai thoại không rõ thực hư: xưa kia, đây là vùng đất đồi, mới khai phá. Thời ấy, ở xứ Chánh Mông này người ta cho rằng cầm chầu Hát Bộ, hát Ả Đào là thú chơi thanh cao của nhà giàu, nhưng lấy con hát về làm vợ lại là điều xấu hổ . Thói thường, sau những hồi trống, phách rộn ràng thì hào kiệt trăng hoa làm sao thoát khỏi ánh mắt quyến rũ của ca nhi... Và khi “con ong đã tỏ đường đi lối về” thì quy tắc nào cũng có ngoại lệ. Được các Bá Hộ lấy về làm vợ lẽ, chân yếu tay mềm, các ca nương không biết mần chi ngoài ca hát , và chiều chuộng người tình. Ở thế lưỡng nan, mỗi ông mua vài mẫu đất bán sơn địa Điền An để lập vườn, trồng cau cho các bà vợ bé. Thứ nhất, tách được bà lẽ ra khỏi sự kèm cặp của bà cả; và nhỡ khi các ông “ đi trước” thì các cô vợ liễu yếu đào tơ có tiền bán cau mà sống. Thu nhập không cao nhưng không phải vất vả cấy cày. Các vườn cau Điền An hình thành nên từ đó.
Trước Tết, trai tráng Điền An, khi còn mờ sương, đã phóng xe đi săn lùng cau tươi. Những con đường to, nhỏ không lúc nào vắng xe gắn máy. Nhưng họ đã chậm chân so với bọn Ba Tường-
Vừa chạy cau, bọn Tường còn chở mật mía từ các huyện miền núi về bán cho lò đường Hai Luận. Giao hàng xong, Ba Tường thấy lương tâm áy náy, vì hám lời gã đã đổ thêm nước lã vào mật. Nhưng khi cả ba tay thống nhất được tỷ lệ nước lã mà người mua chẳng thể phát hiện ra, thì Tường lại thấy an lòng. Buôn mật họ thu lãi gấp đôi.
Giáp Tết các lò đường thủ công trong xã chạy hết công xuất. Ba chàng trai Điền Lâm cần cù như ba con ong, bay từ các buôn làng Miền Núi về Điền An.
Cứ tưởng, cau, đường sẽ làm giàu cho dân Điền Lâm lâu dài. Nào ngờ sự vật lại không chiều lòng người. Chỉ có vài vụ hút hàng, sau đó thì cau rớt giá, rẻ như bèo. Rồi những lò quay đường thủ công xứ Điền An lần lượt bán mô tơ, tháo bỏ hầm chứa mật vì Nhà Máy Đường của Tỉnh mở chiến dịch thu mua mía giá cao ngay từ đầu vụ. Trước kia, Điền An vào mùa giáp Tết, hương mật bay vào tận ngõ, nay thì cả xã bốc mùi chua loét từ nguồn nước giếng ô nhiễm do các hầm mật bỏ hoang.
Mía và cau không còn là nguồn cảm hứng của Điền An. Chúng đã hết sức sống.
Cờ bạc trở về Điền An ngày nào không ai hay. Chẳng làm ra tiền, bí bức, đàn ông ngồi sát phạt nhau với đủ loại cờ gian bạc bịp. Ba Tường và chiến hữu không thoát khỏi tiếng gọi Đỏ Đen…Hôm đó Tường, Thọ, Thanh rời chiếu “Tiến Lên” tại nhà Năm Thịnh, lúc nửa đêm, thua sạch túi . Ba tên phải ăn chịu cháo vịt ở Tiệm Bốn Na. Vừa húp cháo Ba Tường nói:
-“ Nướng sạch tiền của mấy năm vất vã”
-“ Tôi còn thâm vào tiền vợ …” Thanh tiếp
-“Ta chung tiền cho Năm Thịnh…rồi Năm Thịnh lại cống cho Trường Gà, Hai Xuân…”Thọ chán ngán, nói
- “Đã đến thời đi “ ve chai” - Ba Tường gợi ý. Thấy hai người kia không nói năng gì , Tường im luôn, nhưng trong bụng đã sắp sẳn một ý đồ.
Trong chiến tranh, Điền An là vùng Da Báo, sát thị xã QN, nơi xảy ra nhiều cuộc giao tranh. Không một mảnh vườn, bãi mía, khúc sông nào ở chốn này mà chẳng có đạn, bom, dây thép gai...sót lại. Mặc dù đã bị dân buôn Phế Liệu càn qua nhưng Ba Tường tin rằng xứ này vẫn còn hàng.
Bàn với vợ suốt đêm về ý định của mình; trời vừa hừng sáng, hai vợ chồng hì hục dựng một cái chòi tranh sơ sài đứng sát con đường liên xã và một tấm biển“ Phế Liệu” bằng carton, lũng lẵng treo lên. Liên ngồi canh cửa hàng, Ba Tường buộc hai cái sọt to, phía sau ba ga xe Honda 67 ; và ra đi trên con đường ve chai vạn dặm. Rong ruỗi khắp các nẻo đường xã, huyện .tỉnh, gần một năm, thu gom các loại phế liệu. Nay thì khó mà nhận ra Ba Tường đẹp trai, phong độ thời đi học. Da xạm đen, dáng đi tất bật, chỉ ánh mắt vẫn tinh nhanh. Vùng vẫy khắp nơi, Tường vào tận Sài gòn, Bến Tre… cả tháng trời, tìm mối lái và cơ hội làm ăn. Nhưng trạm thu mua Phế Liệu Điền Lâm không có gì ngoài vài tấm nhôm lót sân bay dã chiến, vài cuộn thép gai và dăm đầu đạn hoen rỉ nằm vương vãi.
Chiều hôm ấy, vợ Năm Thịnh đang dọn vườn cau, thoáng thấy Ba Tường trên đường từ Huyện về, hai cái sọt thu gom trống rỗng, liền gọi to:
Ba Tường vô đây, tui bán cho mấy món này.
Gì đó chị Năm? Ba Tường nhanh nhẩu
Mấy đoạn thép gai và ba cái vỏ đạn cà- nông vừa vớt dưới ao lên, nặng quá, sợ thấy mồ- Vừa nói Vợ Năm Thịnh vừa chỉ vào đống phế thải – “Một trăm ngàn nghe, để tui mua lô đề chiều nay, hôm qua thua mất ba chục”
Ba Tường lặng lẽ lấy hai tờ năm chục ngàn đưa cho vợ Năm Thịnh, nhặt thép gai và ba cái vỏ đạn hoen rĩ , đất bùn bao quanh cho lên sọt, chạy thẳng về nhà.
Ăn cơm tối xong, Ba Tường nói với vợ:
Mấy cái vỏ đạn nhà Năm Thịnh nặng quá trời.
Tui với mình ra xem thử , có thuốc đạn, sợ nó nổ bất tử . Tháng trước trên Nghĩa Thắng có ba người cưa bom, chết đó - Liên giục chồng
Cac- tút, vỏ đạn không nổ được ,nhưng phải xem kỹ lại- Ba Tường nói xong, đứng dậy bước ra chổ phế liệu.
Nâng ba cái vỏ ca nông, đầy bùn cát, thấy nặng, Ba Tường lấy chiếc dao nhỏ, cẩn thận gạt đất khỏi bề mặt, rồi đem tới vòi nước, rửa sạch. Dưới ánh đèn từ nhà hắt ra, một ánh vàng lóe lên. Tim Ba Tường như nhảy ra khỏi lồng ngực, Liên đứng không vững, khuỵu xuống lưng chồng.
“v…à…n…g.” Vợ chồng Ba Tường khẽ rên lên sung sướng, khi lấy từng miếng vàng ra khỏi vỏ đạn ca – nông.
… Vài hôm sau Điền Lâm như bị điện giật,...rồi cả thôn không ai nói với ai, họ đổ đi VE CHAI rần rần.
Dũng, người Điền An gốc, kể câu chuyện này khi ngồi uống café với tôi ở tiệm An Viên Trang đầu dốc xe lửa. Tò mò, tôi năn nỉ anh kể tiếp.
Ở Điền An, bây giờ các bà mẹ thường mắng con: “ Học chi cho tốn tiền, đi Ve Chai như Ba Tường có hơn không. ”.- Nói xong Dũng uống cạn ly cà phê, chào tôi, rồi đứng dậy ra về.
Ngày hôm sau, cũng tại quán Café An Viên Trang tôi đem câu chuyện hỏi Sáu Vàng, thì anh ta nói:
Không phải vậy đâu ông ơi, Hắn ta cặp bồ với một bà Đại Gia ở Saigon ,được cấp vốn cho làm ăn. Ai mà chẳng biết mấy hôm nay hai vợ chồng Ba Tường cải nhau ầm ỉ.
“Chẳng lẽ có chuyện Vườn Cau Điền An thời hiện đại ?”- Tôi nghĩ thầm nhưng không tin.
Những câu chuyện ở Điền An từ xưa đến giờ, đều có rất nhiều dị bản. Tìm ra nguyên bản là việc chẳng dễ dàng .
21st December , 2012